Những ngã tư và những cột đèn

XIV

Tháng 5 năm 1966. Chị Hòa kể: tôi là nhân viên, ban bảo vệ khu phố. Trong công tác của tôi, nhiệm vụ trên hết, nhưng thực ra 80% khối lượng hoạt động, vì í nghĩa nhân đạo. Khu phố không có phòng lưu trữ tài liệu, tất cả nằm trong trí nhớ. Nhưng tôi không nhầm lẫn, dù chỉ một chi tiết, nhỏ nhất. Chuyện xảy ra 11 năm rồi, mà tôi cứ ngỡ, mới hôm qua. Tai nạn ập đến nhanh quá, nhưng không phải lỗi của khu phố và chính quyền. Cô Trinh vào bệnh viện tối thứ ba, lúc mê lúc tỉnh, mặt mày nhợt nhạt. Đúng 1 giờ đêm, mẹ chồng cô đến, khóc lóc ngoài cổng. Thường trực phải cho vào. Bà cụ mò đến tận chỗ tôi. Chưa hiểu chuyện gì, đã đổ tội hết lên đầu con trai. Bà nói: con trai bà rượu chè, giao du với đám lưu manh, nên mới xui, những tai bay, vạ gió, khốn khổ này. Tôi giải thích, cho bà cụ, tai nạn này không phải lỗi cậu Dưỡng. Dưỡng hồi này tích cực, muốn tu tỉnh, nhưng vướng cái quá khứ, còn dây dưa lại. Bà cụ nói nguyên văn như thế này: “Thì đấy, nó gieo gió, phải gặt bão. Từ hồi nó dính vào với con đĩ Phòng Nhì, là sinh ra bao nhiêu tai họa”. Lúc bà cụ biết, cậu Dưỡng đã kí giấy, cứu vợ bỏ con, bà cụ mới làm ghê chứ. Bà khóc: “Cái giống tàu bò ấy, nó kí giấy, giết đứa hài nhi vô tội. Nó dã man còn quá súc vật”. Nói rồi, bà cụ chạy vào phòng mổ, tôi vội chạy theo sau, sợ bà thương con xót cháu, mà mất trí, làm náo động cả bệnh viện. Bà vào phòng mổ, bà chắp tay vái, các bác sĩ, i sĩ và i tá, van xin họ cứu con dâu và cháu nội bà, tốn kém bao nhiêu, bà chịu hết. Trông bà tội nghiệp lắm. Nước mắt bà đầm đìa, miệng méo xệch, nói không ra hơi. Cô Trinh còn đang nằm bất tỉnh, đang được tiêm thuốc, hồi sinh và trợ lực. Ông bác sĩ nói: “Bà cụ cứ iên trí”, rồi dìu bà ra ngoài. Ông bác sĩ giải thích gì, bà cũng không nghe, chỉ một mực xin cứu cho cả con dâu, cả cháu. Lúc này cô Trinh cũng tỉnh lại, nghe thấy cứu mẹ bỏ con, cô lồng lên: “Cứu lấy con tôi! Cứu lấy con tôi!” Rồi cô rên rỉ, xin được chết, để con cô sống. Cô nói: “Sống thế thì mẹ nào sống được”. Chị i tá, trong nhóm gây mê hồi sinh, phải nói dối, là cái thai đã chết cứng, trong bụng mẹ rồi. Nhưng cô Trinh nói, vẫn thấy cái thai còn đạp, cô không tin. Cô bảo bác sĩ, nếu cô sống, mà con cô chết, cô sẽ quyên sinh. Mấy ông bác sĩ đều phải vào cả phòng mổ, để an ủi và giải thích cho cô hiểu. Cô vẫn không nghe. Cô im lặng khóc hồi lâu. Rồi giấu mặt vào gối, cô cắn lưỡi, để chết thay con. Cô bất tỉnh. Các bác sĩ phải gỡ cô ra khỏi gối. Vết cắn chảy máu nhiều, nhưng không nguy kịch. Các bác sĩ hội chẩn, cái thai quá to, người mẹ bị động thai ra huyết, thêm vết cắn ở lưỡi, tình trạng rất nguy kịch. Tôi nghe loáng thoáng các bác sĩ bàn, phải áp dụng phương pháp mổ mới, để tránh các biến chứng xấu sau này, cho người mẹ. Tôi không hiểu lắm, cũng không biết tôi nghe có đúng không, chỉ biết chắc chắn, là hi vọng rất mong manh. Bệnh viện đem những thuốc tốt nhất ra dùng. Cô Trinh người bé, nhưng sức đề kháng dai dẳng. Lúc lấy đứa bé ra khỏi bụng, cô vẫn tỉnh, cô hỏi: “Sao không thấy nó khóc?” Chị i sĩ dốc ngược đứa bé, vỗ vào mông mấy cái. Đứa bé khóc oe oe. Chị i sĩ nói: “Con trai”, và đưa đứa bé đỏ hỏn ngang tầm mắt, cho cô xem. Cô Trinh đờ đẫn nhìn, không nói được. Chị i sĩ nói: “Cô nằm im. Mẹ tròn con vuông rồi”. Thế là cô Trinh òa lên, khóc nức nở, rồi mê man bất tỉnh. Đứa bé thiếu tháng nuôi trong lồng kính, nhưng ngắc ngoải, từ trong bụng mẹ, nên rất iếu. 5 giờ chiều, đứa bé chết. Cô Trinh đã tỉnh táo. Theo lời bác sĩ, không còn gì đáng lo ngại. Lúc tôi về, bệnh viện vẫn giấu, không cho cô Trinh và mẹ chồng cô biết tin, đứa hài nhi tội nghiệp đã chết.

Một ngày tím. Nhật kí tiếp tục: anh Thái nhắn tôi, ở địa chỉ cây-si-già-rễ-đỏ, là cứ iên trí. Buổi tối, tôi đến bệnh viện. Thường trực không cho vào, chỉ trả lời: “Bình thường”. Tôi hiểu hai chữ bình thường, có nghĩa là con tôi đã chết, như tôi đã kí giấy, đêm qua. Cũng có nghĩa, là Cốm vẫn nằm, trên bàn mổ, máu me bê bết. Nhưng tôi không biết, Cốm có qua khỏi, đúng như trong hợp đồng? Từ bệnh viện, tôi lại quay về, ngôi nhà ba cổng. Ông Phúc vẫn chưa về. 8 giờ tối, tôi xộc vào nhà ông Khang. Ông Khang đang ngồi đọc trinh thám. Ông Khang nói: “Có lẽ sáng mai ông Phúc về”. Nhưng tôi không chờ được sáng mai. Tôi chìa cho ông Khang xem dự tính mới nhất. Trong hiệu ăn, tôi sốt ruột quá. Tôi cứ đi chơi, suốt cả ngày thế này trên phố, trong đầu cứ rỗng tuếch, thế này. Tôi chỉ muốn sơm sớm phát hiện, đứa nào đã giết, con tôi và Tình Bốp. Để sơm sớm nhìn thấy nó bị vào tù, hoặc ít nhất cũng vào trại cải tạo P.Q, và học các bài giảng bắt buộc, về tinh thần tự giác. Nó vào trại, tôi cầu mong, được chính phủ cho tôi vào chức giám thị trại giam, tôi sẽ giám sát nó, không cho một phút lơ là nội qui, của tập thể. Tôi sẽ cắt khẩu phần ăn của nó, từ 13 cân gạo một tháng, xuống chỉ còn 3 cân. Tôi sẽ kiểm tra nó, mỗi buổi sáng, các bài học tư tưởng, của hôm trước, của nhiều hôm trước nữa. Thế nào cũng có bài nó không thuộc. Không thuộc bài, nó sẽ bị tập thể dằn vặt, cho cả tháng. Nhưng đây là sau này, còn tối hôm nay, tôi chỉ muốn biết mặt nó, để cho nó tí diuđô của tôi, lâu ngày không có dịp sử dụng. Tôi biết, lúc này tôi hung dữ, đến mức hung ác. Nhưng trong hiệu ăn, tôi cứ hình dung, như thế này. Tôi hình dung: Cốm nằm trên sân nhà, máu ra đầy một góc sân. Cốm ngồi trên xiclô, máu rỏ thành vệt, từ sân, qua ngõ, qua cột đèn đầu ngõ, qua phố, qua nhiều ngã tư, qua thường trực bệnh viện, qua sân bệnh viện. Máu rỏ vào phòng mổ. Máu rỏ nhiều như thế, đạo đức và luân lí cao cả, để làm gì? Cho nên, tôi cứ luân lí trung bình, là đủ. Bỏ hiệu ăn, tôi lên xe. Tôi hung dữ thế, nhưng buổi tối lại tím, đến kì lạ. 8 giờ tối, tôi chìa cho ông Khang xem cuộn phim, tôi nói: “Tôi chờ ông Phúc vì chuyện này”. Tôi lấy thêm chiếc mùi soa trắng, là mùi soa giả, từ trong túi áo. Chìa cho ông Khang xem, rồi cất ngay vào túi. Tôi nói: “Tang vật quan trọng. Nhưng sao mãi ông Phúc không về? Tôi đã hứa với ông Phúc, nên phải chờ. Nhưng tôi chỉ chờ được, đến chiều mai. Chiều mai, 5 giờ, ông Phúc không về, tôi sẽ nộp công an”. Ông Khang chả buồn nhìn tang vật. Ông cho tôi một gáo nước lạnh. Ông buông thõng một câu: “Đem mà nộp công an”, rồi chúi mũi vào cuốn trinh thám, mặc tôi đứng tẽn tò. Tôi quay ra. Tôi chửi thầm: “Mẹ mày!” Tôi phóng xe, trong gió láo nháo. Tôi tới địa chỉ cây-si-già-rễ-đỏ. Bà Hiếu đan len bảo tôi: “Anh Thái lại nhắn anh lần nữa: là cứ iên trí”. Tôi phóng xe, lên bệnh viện Bạch Mai. Thường trực lúc này là một ông già. Ông này không cho vào. Ông lại trả lời: “Tôi đã nói rồi, bình thường”. Hóa ra, vẫn là người thường trực ban nãy, mà tôi không nhớ mặt. Tôi ra về. Lần này về thật. Tôi về đến ngõ, là 9 giờ 10. Trong ngõ tất cả đều tím, trong ngõ gió láo nháo. Tôi vào nhà. Đóng cửa cẩn thận. Cả cửa sổ, cả cửa ra vào. Không bật đèn, tôi dùng đèn pin. Tôi bố trí dao rựa, dao phay, búa, kìm, mỗi thứ một nơi, trong hai căn buồng, để từ bất cứ chỗ nào, tôi cũng lấy được một vũ khí, phòng thân. Tôi đợi kẻ gian quay lại, để cho ít nhất một thằng què chân, hoặc què tay. Bày trận xong tôi bật đèn sáng trưng. Có rất nhiều tictăc láo nháo, từ đồng hồ đeo tay, trong buổi đêm iên tĩnh. Tôi nhìn khắp nhà, để ghi nhớ những đồ vật, tôi đã giấu ở đâu. Cả một trận địa ngầm, thuần bạch binh, sặc mùi diêm sinh, và nhiều thứ mùi khác. Tôi nhớ, cũng một đêm lạnh như thế này, hai năm trước, một mình quần nhau, với năm thằng nhảy dù, trong tiệm rượu. Thế mà tôi thoát được, chỉ có bàn ghế là bị gãy bị mẻ, vô tội vạ. Đêm nay tôi tin, cũng sẽ như vậy. Tôi làm vài động tác trước gương, để nhớ lại, các bài tập diuđô. Đến 10 giờ, nghe loáng thoáng có tiếng ai, chào chị Hòa ngoài ngõ. Tôi tắt điện, khóa cửa. Tôi chạy sang nhà chị Hòa.

Xóm ngõ láo nháo gió. Ở nhà chị Hòa, tôi bị sét đánh, vì cái tin chị kể. Tôi đã biết con tôi chết, nhưng không biết, con tôi phải chết đi chết lại, nhiều lần. Cả Cốm, cả mẹ tôi cũng vậy. Cả tôi nữa. Với bệnh viện, hóa ra sự chết và sự sống đều bình thường, như nhau cả. Tôi ra về, quên chào, quên cám ơn chị Hòa. 10 giờ 30, tôi quay lại, cám ơn chị Hòa. Tôi chào chị, rồi lảo đảo về. Trong ngõ lúc này láo nháo gió. Tôi gặp thằng Ngỡi đi tuần. Ngỡi bảo, theo sáng kiến của Chắt, ba thằng bạn tôi xung phong, đi tuần đêm nay, cốt để canh phòng, xung quanh nhà tôi. Chúng nó vẫn là bạn tôi thật, và là bạn tốt nữa. Thế mà, tôi quên cám ơn chúng. Sự tử tế trong tôi, bao giờ cũng chậm. Bao giờ cũng chậm, cho nên đã đi vài bước, tôi mới quay lại. Tôi gọi: “Ngỡi! Ngỡi!” để cám ơn nó, cám ơn cả hai thằng, Đoành và Chắt nữa. Ngỡi nói: “Sau này, nhớ có bữa chén, đàn anh nhé!” Tôi ừ, không nghĩ sau này, là bao giờ. Tôi lảo đảo về. Ngõ láo nháo, gió tím, cây tím, bóng tôi màu tím, và tôi.

Buổi đêm iên tĩnh kì lạ. Buổi tối tím ăn lan sang đêm iên tĩnh. 11 giờ. Rồi 11 giờ 15. Tôi pha càphê. Tôi đi lại trong buồng. Tôi hút thuốc liền liền. Đêm nay chắc sẽ có chuyện, không biết lúc nào, nhưng sẽ vào một lúc bất ngờ nhất. Cho nên tôi sẽ thức suốt đêm. uống càphê, tôi nghĩ đến Cốm. Tôi nghĩ, tôi không hiểu gì về Cốm cả. Cốm của đêm qua, hoàn toàn không giống Cốm, mà tôi đã quen thân. Bản năng sinh tồn của tôi, có lẽ mạnh hơn Cốm, bởi vì, nếu phải lên bàn mổ, thay vào chỗ của Cốm, tôi sẽ rất tự nhiên đồng í, để bác sĩ cứu tôi. Cốm cắn lưỡi, để chết thay cho con. Tôi không làm được như thế. Nhưng không nghĩ, tôi ích kỉ hơn Cốm. Dĩ nhiên, tôi không chấp nhận so sánh, theo kiểu xã hội học, để xem giữa người mẹ và đứa trẻ đỏ hỏn, người nào có ích lợi hơn, cho xã hội, về mặt sản xuất hoặc sinh sản. Tôi cũng không ưa kiểu ví dụ, nếu người mẹ sống, sẽ sinh những đứa trẻ khác, để bù vào sự thiếu hụt dân số. Người nào có ích hơn, cho xã hội. không thể trả lời được. Phải đợi, lúc kết thúc của hai cuộc đời, mới có thể có một kết luận, nào đó, nhưng kết luận cũng chưa chắc thỏa đáng, cho toàn bộ các lí thuyết. Vấn đề không ở, chỗ đúng chỗ sai, nhưng tôi không biết, lí luận thế nào. Bây giờ, nếu bác sĩ cho kí giấy lại, tôi vẫn cứ chọn Cốm, để sau đó lại dằn vặt lương tâm. Đêm qua, khi tôi kí giấy, toàn bộ bệnh viện, từ bác sĩ đến bệnh nhân, đều không tỏ vẻ gì ngạc nhiên, bởi vì không phải họ quyết định, ai sống, ai chết. Nhưng cũng bởi vì, tôi và họ suy nghĩ, giống nhau. Chỉ có Cốm là khác. Tôi thiết tha cuộc sống, của tôi, còn Cốm sẵn sàng tiêu diệt, bản thân. Nếu Cốm phải kí giấy, thay cho tôi, không biết, Cốm sẽ chọn ai: tôi hay đứa hài nhi, tôi không muốn biết. Tôi chỉ nghĩ, Cốm khác tôi quá, điều này trước kia tôi không để í. Đêm qua, toàn bộ bệnh viện đều đồng tình, cứu sống Cốm, tôi thấy không một nhân viên, bác sĩ, lẫn bệnh nhân nào, bênh vực cái mầm sống, là con tôi. Có thể bởi vì, cái mầm sống ít nói, lại chẳng quen biết ai, chẳng ai biết nó. 12 giờ đêm, nhà tôi vắng, như cái nhà mồ. Không nghe thấy, bước chân tôi, chỉ có rất nhiều tictăc, của đồng hồ. Tôi lại nhớ, đêm qua trong phòng mổ. Các bác sĩ, i tá, i sĩ, toàn bộ mặc blu trắng, đội mũ trắng, đeo khẩu trang trắng, tôi không biết mặt họ. Họ giống nhau quá. Tôi chỉ nhìn thấy những đôi mắt, nhưng ngay cả những đôi mắt, cũng giống nhau. Họ đứng tất cả trong ngã tư, để chờ xem tôi rẽ ngả nào. Hầu như tôi không có, cả thời gian, cả lí trí, để lựa chọn. Tôi đâm vào một phố, như thể đã quyết định từ lâu. Tôi vào một phố, hết sức tự nhiên, không một suy tính, như muông cầm, như dơi chuột, như hoa cỏ. Bây giờ, là 12 giờ 30, tôi pha phin càphê thứ hai. Buồng tôi như buồng mồ. Là buồng mùa đông. Là buồng không có Cốm. Đêm iên tĩnh. Chiếc đồng hồ kêu nhiều tictăc trên tay, phải chú í lắm mới nhận thấy, chúng trùng khít với nhiều tictăc khác, mãnh liệt hơn, của chiếc đồng hồ để bàn. Không cần im lặng, cũng nghe được. Những tictăc láo nháo, làm cho đêm thêm tím. Tợp một ngụm, hết cốc càphê. Tôi châm thuốc lá. Tôi biết, ngoài trời đang láo nháo gió, dù không nghe thấy gió. Khu phố đang iên tĩnh, vì tôi không nghe thấy gì cả. Lúc này, không thằng Đoành, thì thằng Chắt, đang đi tuần đâu đây, nhưng tôi không nghe thấy. Ba thằng bạn còn lại của tôi, muốn đề phòng những bất trắc, cho tôi. Chúng tự giác đi tuần đêm, xung quanh ngõ nhỏ. Chỉ tiếc hình như tôi có ít bạn. Nhưng hình như, không nhất thiết tất cả phải là bạn của nhau, mới có thể sống được với nhau, thành thôn xóm, khu phố, thành phố, đất nước, và thế giới.

1 giờ iên tĩnh. Buổi đêm đang ăn dần sang 2 giờ sáng iên tĩnh. Có lẽ nên bắt tay vào việc. Tôi tắt điện, dùng đèn pin. Đầu tiên, tôi xếp chăn gối phồng lên trên giường, như có người đang nằm. Tôi khiêng bàn ra, để dưới lỗ hổng trần nhà, kê thêm một chiếc ghế, trên mặt bàn. Tôi lấy một cuộn dây thừng to, rồi trèo lên bàn, rồi lên ghế, rồi chui vào cái lổ hổng trần nhà. Tôi soi đèn, trần nhà ẩm mốc, đầy bụi lẫn mạng nhện. Tôi buộc dây thừng, lên xà nhà, buộc thật chắc. Dây thừng dài, thả xuống qua lỗ hổng, xuống tận đất. Tôi tụt xuống theo dây thừng. Bài học này tôi đã thực hành, đến thuộc lòng, từ hồi còn đi ngụy. Nhưng tôi lại nghĩ đến Tacdăng, trong xinê. Tôi xếp bàn ghế, ngay ngắn vào chỗ cũ. Rồi leo dây thừng lên trần nhà, cùng với con dao phay bạch binh. Ngồi trên trần nhà tôi thở. Dao phay và đèn pin, xếp gọn một bên. Xong xuôi, kéo dây thừng lên. Tôi bắt đầu rình. Rình thế này thế nào cũng rỗi việc. Cho nên tôi rỗi. Rỗi thế nào cũng buồn. Bởi vậy tôi buồn. Buồn thế nào cũng chán. Thế là tôi chán, tôi không muốn rình nữa. Rình được 20 phút, tôi đã chán. Thế rồi tôi nhận ra đủ các thứ mùi, xộc cả vào mũi. Sau 20 phút, tôi phân biệt được, đâu là mùi bụi, đâu là mùi mốc, mùi gián mọt, mùi nước đái chuột. Mũi tôi còn ngửi, thấy mùi lố bịch, và nhất là mùi lố bịch. Tôi cũng thấy vậy. Còn 4 tiếng nữa trời sáng. Tôi nhìn xuống, theo vệt đèn soi, thấy giường nệm ở một góc, phía bên dưới. Giường có chăn ấm, nệm êm, mà tôi lại ngồi đây, thu lu trên trần nhà. Nhưng tôi lại nghĩ, xuống giường để ngủ, ấm áp thật, nhưng kẻ gian ập vào thình lình, trở tay không kịp. Ngồi trên này, tôi nhìn thấy hết, và chủ động đối phó được. Nhất là có thể đánh, bất ngờ được. Người bị bất ngờ, thế nào cũng thua. Đêm qua, Cốm bị bất ngờ, nên đã bị tai nạn. Đêm nay, tôi phải trả thù cho Cốm. Tôi thích chữ trả thù, cho nên ngồi lại trên trần nhà. Và lấy thuốc ra hút. 1 giờ 50 vẫn đêm iên tĩnh. Hút thuốc trong bóng tối không ra gì, nhưng tôi vẫn hút. Tôi tìm một đầu đề để nghĩ chơi. Nhưng không có đầu đề gì thu hút. Tôi lại tụt dây xuống nhà. Cắp theo chiếu và chăn đơn. Tôi leo lên chỗ nấp. Tôi trải chiếu. Nhưng không nằm, chỉ ngồi, chăn đơn khoác kín vai. Tôi mà nằm có khi ngủ quên mất. Thời gian trôi chậm. Rình thế này khổ hơn chờ tàu, trên sân ga. Một phút chờ tàu, dài bằng một tháng, một năm. Chờ tàu sốt ruột, nhưng thế nào tàu cũng đến. Còn tôi ngồi rình, không biết, kẻ gian có đến không. Chờ thế này là chờ cầu may. Cho nên tôi chán. Tôi ngồi ngay sát mái nhà, nên nghe thấy gió, rất rõ rệt. Tôi nghe gió đến, từ bốn bề. Có lúc, tôi nghe được, gió láo nháo trong ngõ. Có lúc, gió láo nháo, chuyển vào trong vườn. Có lúc, hình như chỗ nào cũng láo nháo gió. Rồi cũng có lúc, gió cùng ập về một lúc, để láo nháo với nhau, đúng trên mái nhà tôi. Nhưng cũng có nhiều lúc, chứ không phải một lúc, tôi không nghe thấy gì cả. Không một tiếng chân người, không một tiếng động, không cả tiếng tôi thở nhẹ. Như vậy là, ba thằng bạn tôi có lẽ đã ngủ quên, quên cả chương trình đi tuần đêm, qua ngõ nhỏ nhà tôi. Những lúc ấy, không rõ mấy giờ, tôi không xem giờ. Chỉ biết, toàn bộ thành phố đã thực sự chìm sâu, vào giấc ngủ. Tôi nhắm mắt, rồi lại mở mắt. Để xem có gì khác nhau. Nhưng không khác nhau. Mắt tôi nhìn ra ngoài, và nhìn vào trong, đều thấy như nhau, đều không thấy gì, nhưng không phải màu đen, chỉ thấy một khoảng trống tím. Tôi nghĩ, khi người ta không nhìn thấy gì, thế nào cũng nói chỉ nhìn thấy, một màu đen. Thực tế đêm nay, tôi có thừa thời gian, để quan sát chăm chú, cái không nhìn thấy ấy. Tôi thấy không hoàn toàn, như người ta nói. Cái không nhìn thấy, không phải là màu đen, mà là một khoảng trống vô nghĩa. Khi người ta không nhìn thấy gì, là người ta nhìn thấy, cái vô nghĩa. Đêm nay vì vậy, tôi ngồi bó gối, trong cái vô nghĩa, ngay sát dưới mái nhà. Vô nghĩa cũng bởi vì, không kẻ nào mò đến. Xem đồng hồ dạ quang trên tay, đồng hồ chỉ 2 giờ 40. Tôi buồn ngủ. Mi mắt trĩu nặng. Tôi bám vào đùi. Rồi tụt dây thừng, xuống nhà. Tôi đặt báo thức trên chiếc đồng hồ để bàn, là 3 giờ 30. Để nếu có ngủ quên, thì đồng hồ gọi tôi dậy. Nhưng rồi, lại nghĩ ra một cách khác, tôi lấy gói lạc rang, và chai rượu quê, đút cả vào túi, rồi lại leo dây thừng, lên trần nhà. Rút dây xong, tôi uống rượu bằng chai, tôi tí tép mấy hột lạc, thế là chẳng còn nghe thấy tiếng động nào, từ bên ngoài. Tôi uống theo kiểu dè sẻn, một chút một, trong buổi đêm vô nghĩa, trên trần nhà hôi hám, dưới mái nhà iên tĩnh. Chút rượu làm tôi thêm phấn chấn, còn bóng đêm, thì bớt vô nghĩa. Bên cạnh tôi chuột chạy, nhưng tôi không nhầm, với bước chân người. Gián cũng chạy xào xạc, nhưng tôi không nhầm với lá rơi, mùa đông. Không nhìn thấy bọn gián, nhưng tôi đoán được, lúc nào gián đập cánh bay, lúc nào bò trên xà gỗ. Tiếng chân gián, nghe luều nguều, luều nguều đâu đây, chắc chúng ngửi thấy mùi rượu thơm, và mùi lạc rang, nên đến gần tôi, để ăn cướp vài miếng. Bọn gián này là gián mùa đông, nên gầy bé. Gầy bé, nhưng cũng phải lớn, bằng chiếc lá cây khô. Cả bọn mà châu vào, rượu tôi không đủ, để chia cho chúng. Cho nên tôi phải giấu kĩ chai rượu, trong ngực, dưới lần áo khoác. Lạc rang cũng vậy, tôi cất trong túi ngực. Tôi ăn uống, như đi ăn vụng. 3 giờ 20, rồi 3 giờ 25. Tôi đổi í định, tôi tụt xuống, hủy báo thức, trên chiếc đồng hồ để bàn. Tôi lấy một quyển sách nặng, tôi còn nhìn rõ, là một quyển trinh thám, để đặt nó lên, trên nút khóa chuông đồng hồ. Đồng hồ mà đổ chuông lúc này, là hỏng mất mọi dự tính. Thế mà tôi không nghĩ ra trước, vẫn biết, trí thông minh bao giờ cũng đến chậm, cho nên tôi không tự trách mình. Tôi đứng một lúc, rồi nghĩ thế nào, tôi lấy đồng hồ để bàn, định đem lên chỗ nấp. Nhưng lại nghĩ, cứ đà này tôi sẽ dọn hết đồ đạc, lên trần nhà. Cuối cùng, tôi vặn kim báo thức, lên 6 giờ, rồi lên 7 giờ. Tôi đặt đồng hồ vào chỗ cũ. Rón rén đi lại, rồi rón rén leo lên, và rút dây. Tôi lại ngồi uống. Tôi cảm thấy say say. Cho đến lúc, gà gáy đợt đầu, ở một phố xa, rồi đến gà gáy trong ngõ nhỏ nhà tôi, nghe rất gần. Rồi tất cả lại im ắng. Vẫn không tiếng chân người. Chỉ thấy gió thổi nhẹ, làm đung đưa mái nhà. Phía trên mái nhà, là bầu trời, là mùa đông. Dưới chân tôi, là nhà tôi, là nhà mồ. Gió đêm làm tất cả đung đưa, rất nhẹ nhàng, êm ái. 4 giờ sáng rồi, tôi buồn ngủ thực sự, nhưng không ngủ. Tôi uống nốt chỗ rượu, để thức. Tôi tự nhủ, thức cả đêm thế này, mà không nghĩ lung tung, là tôi khá. Nhưng nếu có nghĩ lung tung, là tôi cũng khá, vì còn nghĩ được. Thức đêm, mà không nghĩ gì trong đầu, mới là tình hình xấu. Buồn ngủ, nhưng tôi không nằm, vì nằm, thì thế nào cũng ngủ, vì ngủ thì thế nào kẻ gian cũng vào nhà, để tôi không nghe thấy gì. Tôi buồn ngủ, cho nên lại tụt dây xuống. Thấy mặt đất tròng trành, đúng chỗ tôi đặt chân vào. Tôi lại leo lên, hồi lâu cũng leo đến nơi. Tôi rút dây. Rồi lại ngồi xổm, để muốn uống thêm, mà chai đã rỗng từ bao giờ. Tôi vứt chai, vào một góc, góc nào cũng được. Tôi để mặc cho lũ gián đói, chui vào lau dọn, cái chai rỗng.

Hình như tôi có chợp mắt, vài phút, hoặc vài giây, hoặc vài phần nhỏ của giây. Bởi vì tôi giật mình, vẫn thấy tôi ngồi xổm, chiếc chăn đơn còn khoác, trên vai. Nhưng có tiếng lắc rắc, là tiếng cành cây gãy, là tiếng lá bị chân người giẫm lên. Tôi không nghe nhầm. Chắc chắn không nghe nhầm. Tôi nghe được ba lần lạo xạo tiếng lá khô, bị vỡ. Rồi iên ắng. Rồi một tiếng lạo xạo nữa, đến từ cửa sổ. Tôi tỉnh ngủ hẳn. Tôi lắng nghe, bằng tai, bằng mắt, bằng mũi, bằng toàn bộ lí trí. Mà không thấy gì nữa. Tiếng động khả nghi sau đó lại đến, từ mái nhà, khá rõ. Giống như có quả cây nào rụng vào, nhưng trên mái nhà, không có cây, và mùa đông, cây không ra quả. Vậy thì có kẻ đang ném đá. Nhưng cũng không phải, vì tiếng động lớn, nhưng rất êm. Tôi ngồi chờ, lâu lắm, cho đến khi gà gáy, lần thứ hai. Lần này bắt đầu từ xóm tôi, rồi lan sang các khu phố khác, rồi toàn bộ nội thành, rồi toàn bộ ngoại thành. Gà gáy te te khắp nơi. Gà gáy to thế này, kẻ trộm phải chạy hết. Rồi nhiều tiếng động bắt đầu, là các tiếng động không cần giấu giếm, của buổi sớm. Tôi nghe tiếng mở cửa, tiếng xê dịch đồ vật, tiếng ho, tiếng chân người, xung quanh khắp nơi. Có lẽ chỉ mỗi số nhà tôi, vẫn còn iên lặng. Tôi vẫn ngồi trên trần nhà, mà lắng nghe buổi sáng. Có tiếng người, ngay bên dưới, trong ngõ nhỏ. Nhiều tiếng người láo nháo, ngoài phố xa. Tiếng động buổi sáng làm tôi tự dưng thấy an lòng. Nhưng vẫn không rời chỗ nấp. Bởi vì tôi nghĩ, biết đâu, đây mới là lúc bất ngờ nhất, để kẻ gian xuất hiện. Lúc này, đêm và ngày còn đang tranh chấp nhau, bóng tối vẫn còn bao trùm, toàn bộ nội ngoại thành. Lúc này, sẽ là thời điểm cuối cùng để kẻ gian đến, lấy lại tang vật. Sau đó, sẽ quá muộn. Tôi tìm một giả thiết mới. Để phán đoán thế này: kẻ gian đã đến bên cửa sổ, ít nhất từ một giờ nay, và đang đợi, giống như tôi đang đợi. Kẻ gian đã ném, một vật gì đó êm ái, lên mái nhà, có thể là xác chuột chết, để kiểm tra, xem tôi có ngủ say. Tôi nghe tiếng xiclô, từ trong ngõ đánh ra. Rất có thể chính là cái xiclô đã chở Cốm, đến bệnh viện tối qua. Nhưng tôi không biết, chủ nhân xiclô là ai. Tôi nghe thấy, tiếng chân người, là dân phố người đi chợ, người đi làm. Tôi nghe thấy tiếng bát đĩa, từ các nhà bếp. Nếu Cốm ở nhà, vào giờ này Cốm cũng đang thổi cơm, để nắm lại, để mang đi làm. Tôi thấy một màu trắng lờ nhờ, pha lẫn vào bóng tối, để tôi nhìn lờ mờ đồ đạc, dưới chân tôi, và lờ mờ cánh cửa ra vào, vẫn đóng kín. Thế rồi có thêm một ông già ho khan. Thêm một đứa trẻ con khóc. Có ai đánh vỡ cái bát. Rồi i như trong thánh kinh: có tiếng người chào trong ngõ, có tiếng người chào lại. Căn buồng dưới chân tôi rạng sáng, từ lúc nào không biết. Rồi rất nhiều tiếng động, của toàn bộ nội thành ập đến, trong một buổi sáng mùa đông, iên tĩnh, như một bản hòa tấu.
 
Top